Thứ năm, 23/10/2014 - 15:36 GMT+7

Đồ gốm sứ trên các tàu đắm cổ ở Việt Nam (Phần 2)

Thứ sáu - 28/02/2014 14:05 GMT+7
Hàng hóa trong tàu tuy có nhiều chất liệu khác nhau nhưng chiếm số lượng đa số là đồ gốm sứ. Chính đây là chuyến hàng gốm sứ Trung Quốc, sản xuất theo yêu cầu đặt hàng cho phương Tây nên hình dáng, sắc màu và lối bố cục trang trí có nhiều loại, khác lạ hẳn với phong cách truyền thống. Nhiều chủng loại mang đường nét mỹ thuật Baroque
1. Gốm sứ thời Thanh

a. Đồ gốm sứ trong tàu cổ Hòn Cau

Hàng hóa trong tàu tuy có nhiều chất liệu khác nhau nhưng chiếm số lượng đa số là đồ gốm sứ. Chính đây là chuyến hàng gốm sứ Trung Quốc, sản xuất theo yêu cầu đặt hàng cho phương Tây nên hình dáng, sắc màu và lối bố cục trang trí có nhiều loại, khác lạ hẳn với phong cách truyền thống. Nhiều chủng loại mang đường nét mỹ thuật Baroque, phỏng theo mẫu các đồ dùng hàng ngày như ấm rượu, ly chân cao bằng bạc, nhôm hay pha lê quen thuộc của người châu Âu.

Dựa vào kiểu dáng và hoa văn trang trí, chúng ta thấy phổ biến là các loại choé, lọ có nắp, bình, nậm rượu, cốc, ly, ấm, chén, bát, đĩa... Rất đáng chú ý một số chủng loại hiện vật gốm sứ được sản xuất theo nhiều kích cỡ khác nhau, từ to đến nhỏ, nhưng hoa văn được vẽ rất giống nhau. Một số chủng loại mang tính chất "bộ đồ" hay từng cặp như lọ và ống bút, choé có nắp và ống bút, bình và choé có nắp... Tuy kiểu dáng khác nhau nhưng đề tài vẽ và màu men trang trí rất giống nhau. Tất cả những dụng ý tạo dáng và trang trí đó, chính là nhằm mục đích sử dụng tô điểm cho các bệ cửa, bệ lò sưởi, trên tường những căn phòng của người châu Âu thời ấy.

 
Hai chóe có nắp, sứ hoa lam, nhà Thanh- thế kỷ 17.
 Chóe có nắp và bình, sứ hoa lam, nhà Thanh- thế kỷ 17.
 
Đặc điểm riêng biệt của đồ sứ hoa lam trong tàu này biểu hiện rõ nét những đề tài truyền thống Trung Hoa như: hoa cúc, hoa lan, hoa mẫu đơn, phong cảnh sơn thuỷ nhân vật, thiếu nữ, trẻ thơ... nhưng được bố cục hết sức tài khéo và sống động. Hoa cúc, hoa mai, hoa sen, hoa lan như là biểu tượng cho 4 mùa. Hoa lá cúc trên bình sứ, choé sứ hay lọ sứ hoa lam được sắp xếp trong các dải chéo, dải đứng hay phân ô từng lớp. Trên nhiều bình, lọ sứ còn thấy vẽ cây hoa lá trong chậu đặt trên kỷ vuông, đế tròn như giữ lại một lối chơi hoa cổ xưa. Hoa lá sen xoè nở trong lòng đĩa. Cánh hoa sen như được ngắt ra rồi chắp lại thành đường diềm đan cài vào những băng trang trí của lọ, của bình. Đề tài động vật có các loài ngựa, thỏ, cá, chim... Nhiều hình chim nhỏ xíu vẽ trên đĩa, chén, lọ, bình với các tư thế khác nhau. Đề tài con người xuất hiện trong nhiều cảnh trí. Đây là cảnh người cưỡi ngựa dừng chân bên rặng liễu, kia là kẻ bắn cung khom mình trên lưng ngựa đang phi. Đây là cảnh người chèo thuyền trong bức tranh sơn thuỷ, ghềnh đá, đầu non như hiện trên nền khói sương, mờ ảo của sắc men xanh nhạt; kia là ông già câu cá có chú tiểu đồng... Từ những thiếu nữ với tà áo dài nhiều nếp thướt tha bên một hiên lầu có lan can cho đến những em bé cởi trần mang trên tay một cành hoa lá như đã thu lại một góc thiên nhiên hùng vĩ của đất nước Trung Hoa.

Đề tài mang dấu ấn châu Âu thể hiện ở lối vẽ hoa lá bằng các vạch đan chéo. Người ta vẽ cây lá trong các dải ô chéo trên bình, choé theo cách phác họa lên hình bên ngoài sau đó tô ngang dọc nét carô bên trong. Đây có lẽ là bút pháp đặc biệt chưa hề có ở phương Đông được vẽ theo mẫu in nổi hoa trên vải của Hà Lan thế kỷ 17.

 
Có loại đĩa và chén trà sứ hoa lam, chia 10 ô cánh hoa, trong ô vẽ cành hoa lá, giữa lòng vẽ 3 cành hoa có bướm lượn nằm trong vòng tròn, theo lối trang trí trên đồ sứ Kraak.
 
 Nắp cốc, sứ hoa lam, nhà Thanh- thế kỷ 17.
 
 Tước (chén chân cao), nhà Thanh- thế kỷ 17.
 
Đề tài châu Âu còn biểu hiện ở loại nắp cốc vẽ hình ông hoàng bà chúa Tây phương, tay cầm vương trượng, xung quanh viền chia 10 ô, 5 ô vẽ một hình người quỳ, xen kẽ 5 ô khác vẽ cành hoa lá.

Trên loại choé cao 59cm, hay bình dáng cốc cao 46,5cm cũng giống như trên loại choé và ống bút (cao 33cm), thể hiện rõ sự pha trộn của 2 loại đề tài Trung Quốc và châu Âu. Dọc theo chiều cao của món đồ, nửa bên này ta thấy chia các ô mạng lục giác, bên trong ô vẽ cảnh nhà nhiều mái nhọn bên kênh đào kiểu Hà Lan thế kỷ 17, còn nửa bên kia vẽ các chậu hoa lá cúc, lan theo phong cách Trung Quốc.

Đồ gốm sứ tàu cổ Hòn Cau còn có những loại bát, đĩa, thìa, hộp, bình, chén của dòng sứ trắng sản xuất ở lò Đức Hóa tỉnh Phúc Kiến. Trong đó, đáng chú ý là loại tượng Quan âm tống tử, cao 13,5cm, mô tả Phật Bà ngồi trên toà sen, một tay ôm đồng tử, một tay cầm bình nước Cam Lộ. Ngoài ra là những tượng nhỏ như hài đồng, thỏ trắng, kỳ lân, cua...

Những bát đĩa sứ hoa lam có xương dày, men vẽ màu xanh thẫm hay xanh chì, men phủ trắng xám, trang trí đề tài sư tử, phong cảnh sơn thuỷ, rồng phượng và hoa lá... Lại có những bát men trắng xám và men trắng vẽ nhiều màu... chế tạo kém tinh xảo cùng một số đồ sành như hũ, lọ, ấm có tay cầm, đĩa đèn hình lòng chảo... Đó là những loại hàng hóa gốm sứ thu mua trực tiếp của những lò gốm dân gian miền Nam Trung Quốc không qua đặt hàng.
 Hai đĩa, sứ hoa lam, nhà Thanh- thế kỷ 17.
 
Từ nhiều mẫu hình trang trí như thiếu nữ, trẻ thơ, nhiều cấu trúc trang trí bổ ô, phân tầng cho đến các loại dấu hiệu lấy trong đề tài bát bảo như: chữ Vạn, đồng tiền, loa ốc, song ngư, bình ngọc, cỏ linh chi thường thấy vẽ dưới đế món đồ... là những cứ liệu so sánh để định niên đại chung cho sưu tập gốm sứ Hòn Cau là đời Khang Hy nhà Thanh. Điều thú vị hơn là, một số hiện vật có minh văn trong tàu như: tiền đồng Vạn Lịch, Thuận Trị, Khang Hy đã cho phép chúng ta khép lại theo năm Canh Ngọ in nổi trên rìa cạnh thoi mực nho bị cháy là năm 1690. Niên đại này tương ứng với năm thứ 27 của niên hiệu Khang Hy.

b. Đồ gốm sứ tàu cổ Cà Mau (1723-1735)

Qua phân loại, thống kê đồ gốm sứ tàu cổ Cà Mau, chúng tôi đã thấy xuất hiện đồ gốm sứ thuộc nhiều dòng men khác nhau cũng như nhiều trường hợp sử dụng nhiều màu men. Song, chung qui lại, nguồn gốc sản xuất thuộc về các khu vực là gốm sứ Cảnh Đức trấn tỉnh Giang Tây và vùng xung quanh, lò gốm sứ Đức Hoá tỉnh Phúc Kiến và khu lò gốm Quảng Châu Tây Thôn, Tiên Sơn Thạch Loan thuộc tỉnh Quảng Đông. Như vậy, nguồn gốc hàng hoá gốm sứ này tương tự như tàu cổ Hòn Cau (1690).
 
 Ấm trà có nắp, sứ hoa lam, nhà Thanh - thế kỷ 18.
 
 Chén trà, sứ hoa lam, nhà Thanh - thế kỷ 18.
 
Đồ gốm trong sưu tập tàu cổ Cà Mau có đặc điểm khác hẳn với đồ sứ sản xuất ở Đức Hoá và Cảnh Đức trấn vì sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ của vùng Quảng Đông. Những loại hình đặc biệt như chiếc ấm tạo hình chú khỉ ngồi xổm, 2 tay nâng vòi cong có đính lá và quả đào. Nắp ấm là chỏm đầu khỉ. Toàn thân và đầu khỉ phủ men nâu nhưng mặt khỉ không men, vòi men trắng. Các đầu tượng trâu, kỳ lân, hươu đều thấy dùng men nâu và trắng. Lò gốm Quảng Châu còn có thể là nơi sản xuất loại đĩa và chén uống trà, âu có nắp, choé, ống bút nhiều cỡ với lối bổ ô hình thấu kính hay hình chiếc lá, men trắng trên nền nâu, trong ô men trắng lại vẽ nhiều màu trên men.

Đồ gốm men nhiều màu với các màu trắng, xanh rêu, vàng và nâu đã thấy dùng trên một số loại hình bát đĩa, thìa lá, lâu thuyền, thuyền rồng, các loại tượng, âu có nắp. Nhóm tượng gốm men nhiều màu cũng rất đẹp bao gồm các cặp tượng người cưỡi ngựa, em bé nằm trên lưng trâu, tượng sư tử men xanh rêu và vàng, tượng chim vẹt, "ba người bạn''. Các đĩa gốm men nhiều màu, đường kính 21,5 cm, có nét chung về kỹ thuật thể hiện in nổi và khắc các hoa văn với đề tài phổ biến là hoa lá, hoa chim, sư tử hí cầu, chim phượng bay, cá vượt Vũ Môn, cổ đồ, thực sự tạo ra một mảng màu hấp dẫn và mới lạ.
 
 Lư hương, sứ hoa lam nhà Thanh - thế kỷ 18.
 
 Ang, sứ hoa lam nhà Thanh - thế kỷ 18.
 
Chất lượng đồ sứ loại tốt nhất vẫn thuộc về đồ sứ hoa lam với 17 loại khác nhau, từ các loại đĩa sứ cỡ lớn, và cỡ trung bình dùng đựng đồ ăn, đĩa và chén trong bộ đồ uống trà cho đến các loại khác như bát, choé, tách, ấm, lư hương, ang, chậu, hũ, bình, lọ, kendi, ống nhổ, hộp... Trong đó đồ thị biểu hiện số lượng cao nhất là loại đĩa với 199 mẫu, chén 181 mẫu, thứ đến là nắp các loại với 73 mẫu, ấm và tượng mỗi loại 25 mẫu, số mẫu ít nhất là nậm 3, lâu thuyền 2.

Đồ sứ hoa lam còn kết hợp với men nâu (bát đĩa và chén uống trà); hay kết hợp vẽ nhiều màu trên men qua lần nung thứ 2 bao gồm: bộ bát và đĩa có miệng hình lục giác, hình thoi hay tròn, tách, ấm, âu, hộp, tượng.

Đồ sứ men trắng và nâu vẽ nhiều màu trên men: Chén, đĩa, ống bút, choé, âu có nắp. Đồ sứ men trắng vẽ nhiều màu trên men với 14 loại: Đĩa, chén, ống bút, choé, tách, ấm, bình, lọ, khay, ấm, tượng, thìa.

Trong sưu tập có những đồ gốm sứ độc đáo, dường như xuất hiện lần đầu tiên như lư hương, ang sứ hoa lam, chậu sứ hoa lam, kendi vẽ phong cảnh nhân vật, hộp sứ hoa lam vuông, ấm cao vẽ lam và nhiều màu, lọ hoa mai nổi, ấm hình khỉ...

Đặc biệt hơn là một số mẫu đồ sứ men ngọc và thuý lam như chén, lọ, bát, lư hương, hộp, tượng. Riêng bát có loại men ngọc bên ngoài, bên trong vẽ lam. Lại có cả những loại như lư hương, bát, đĩa và lọ trang trí vẽ lam và nhiều màu dưới men. Đây cũng là loại đồ sứ cực kỳ hiếm quý dưới thời Thanh.

Đề tài hoa văn trang trí trên đồ gốm sứ tàu cổ Cà Mau rất phong phú theo truyền thống Trung Quốc và theo yêu cầu đặt hàng của châu Âu, thể hiện bằng các kỹ thuật in khuôn, khắc, vẽ lam dưới men, vẽ màu trên men và sự kết hợp các hình thức:
Đề tài truyền thống Trung Quốc:

- Đề tài con người với phong cách ăn vận theo kiểu đời Minh vẽ trên loại đĩa to, chậu, bình có quai, kendi; hình thiếu nữ tóc búi cao, áo váy dài vẽ trên đĩa, chén, bình; hình trẻ thơ vẽ trên đĩa.

Phổ biến hơn là đề tài phong cảnh sơn thuỷ tùng đình, nhân vật như những bức tranh thu nhỏ trên đĩa, ấm, chén. ở đây, nhân vật thường gặp là một ông già đi trước và một tiểu đồng vác ô theo sau. Nhiều đề tài phản ánh điển tích cổ Trung Quốc như người cưỡi ngựa, người cưỡi trâu và nghé, người múa trống, trèo tường, bẻ liễu, ngư tiều vấn đáp, đạp tuyết tầm mai... Lại có cả những đề tài sinh hoạt, lao động: quạt lò, đun nước, cất vó, quăng chài, kéo lưới, úp cá, chọi gà, bơi thuyền, câu cá, ngư ông đắc lợi.

- Đề tài động vật có từ loại linh thú như rồng, phượng, sư tử, ngựa, trâu, khỉ, hươu, thiên nga, chim công, chim nhỏ, cá, cua, tôm, ong, bướm, chuồn chuồn. Trong đó có những cặp đề tài: "tùng lộc, mã liễu, phù dung, chim trĩ"...

- Đề tài hoa lá có các loài hoa lá sen, hoa chanh, hoa cúc, mẫu đơn, tùng, mai, trúc, ngô đồng.

- Các đề tài khác là hồi văn, vạch chéo song song, mạng kim quy, chữ Phúc, Vạn, Thọ, bát bảo của Nho giáo hay Đạo giáo.

Mỗi loại đề tài dù đơn giản hay phức tạp nhưng được thể hiện nhiều kiểu khác nhau tạo nên sự phong phú của đề tài. Chẳng hạn, đề tài "người cưỡi trâu, nghé với cây liễu rủ và 2 con chim bay” chúng ta thấy đã được thể hiện trên các loại hình đồ sứ hoa lam sau đây: loại đĩa miệng hình thoi, hình lục giác; bát, choé và ấm.

Đề tài châu Âu biểu hiện rõ ràng nhất là ở bộ đĩa sứ hoa lam có 5 cỡ, đường kính miệng từ 20,5 đến 29,2cm. Giữa lòng đĩa vẽ phong cảnh làng chài ở đảo Deshima (Hà Lan) với đồi cát, một người đàn ông dắt một con bò và 2 người khác đang dạo bước. Một ngọn hải đăng, một mái nhà thờ và mái những ngôi nhà bên cạnh những tàu đánh cá. Viền mép đĩa vẽ băng sóng nước... Những bình có quai có lẽ là một loại đồ uống bia cũng lần đầu tiên xuất hiện, mặc dù trang trí vẽ theo đề tài Trung Quốc...

Cùng với 2 đồng tiền Khang Hy Thông bảo, trong sưu tập đã tìm thấy hơn 20 chiếc chén sứ hoa lam và men ngọc, dưới đáy viết 4 chữ Hán Ung Chính niên chế (chế tạo trong niên hiệu Ung Chính). Lại có cả loại bát sứ hoa lam đường kính 12cm, cao 5,2cm, vẽ hoa dây và chữ Thọ, dưới đế viết 6 chữ Hán: Đại Thanh Ung Chính niên chế.

Chính vì vậy, đây là những thông tin cơ sở cho việc xét đoán niên đại của hàng hóa trong tàu là khoảng niên hiệu Ung Chính (1723-1735).

Đời Ung Chính chỉ kéo dài 12 năm, cho nên những thông tin mới về đồ gốm sứ trong tàu cổ Cà Mau hẳn sẽ có nhiều đóng góp quan trọng vào nhận thức của chúng ta.

2. Đồ gốm sứ Thái Lan

Cho đến nay, đồ gốm Thái Lan đã được phát hiện trong 3 chiếc tàu cổ ở biển Việt Nam là tàu cổ Hòn Dầm Kiên Giang (1991), tàu cổ Cù Lao Chàm (1997-2000) và tàu cổ Phú Quốc (2004)

a. Tàu cổ Hòn Dầm (Kiên Giang)

Số lượng đồ gốm trong tàu cổ Hòn Dầm (Kiên Giang) theo tài liệu của Phạm Quốc Quân và Nguyễn Quốc Hùng(1) là 16.000 chiếc nhưng theo W.Blake và M. Flecker là 1248 chiếc. Loại hình đồ gốm bao gồm 13 kiểu bát, đĩa, chén, bình, vò, lọ... với kích thước to nhỏ rất khác nhau(2). Bảng thống kê của W. Blake và M. Flecker cho thấy số lượng tập trung nhất là loại lọ rất nhỏ (jarlet) (706 chiếc), thứ đến là loại bát nhỏ và loại rất nhỏ (345 chiếc).

Đặc điểm chung của gốm trong tàu này là gốm men ngọc và men nâu được sản xuất ở vùng lò gốm Sawankhalok và Sokhothai ở Bắc Thái Lan.

 
 Ấm, gốm men nâu, Thái Lan - thế kỷ 15.
 
Gốm men ngọc (Celedon) có mầu xanh, màu tàn thuốc. Gốm men nâu màu da lươn, lông thỏ, màu vàng hay trắng xám. Gốm men ngọc có loại hình và men tương tự thời Nguyên Trung Quốc. Tiêu biểu là loại đĩa men ngọc dáng chậu miệng loe, gờ cắt khấc, đường kính 30cm có chiếc đường kính tới 38cm, nặng 3 kg. Trong lòng khắc chìm dưới men bằng que răng lược tạo hình 4 bông hoa sen theo chiều bổ dọc. Thành ngoài tạo những đường sọc nổi hoặc chìm chạy xiên từ đáy lên miệng không đều đặn chau truốt như cánh sen cánh cúc nổi thường gặp trên đồ Celedon Việt Nam hay Trung Quốc cùng thời. Quan sát trên đế đồ gốm men ngọc đều thấy màu đỏ gạch hoặc xám trắng, có một vòng tròn là dấu tích kỹ thuật nung. Hoa văn trang trí trong lòng bát đĩa với các bước sóng ngắn hay dài. Giữa các bước sóng được khắc các loại hoa dây hình sin có tay mướp, hoa thiên lý, hoa phù dung hay hoa sen. Ngoài ra còn thấy các loại văn tạo bằng các đường cong chồng lên nhau, chữ V hay hồi văn tam giác bên trong có những gạch chéo.
 
 Đĩa, gốm men ngọc, Thái Lan - thế kỷ 15.
 
 Bát, gốm men ngọc, Thái Lan - thế kỷ 15.
 
Hoa sen, hoa cúc là đề tài khá phổ biến và được thể hiện thành công của nghệ nhân gốm Thái. Có khi cánh hoa sen tạo gần giống hình lá đề, giống như các băng hoa văn đắp nổi hoặc phù điêu trên các đế gốm hay các bệ đá của tượng Phật. Lại có khi, người ta dùng que răng lược tạo bông sen nhiều lớp cánh gần giống loại hoa cúc đại đóa mãn khai. Nhiều trường hợp, bát đĩa trong các cánh là các đường vạch tạo gân với sự cách điệu cao, xen giữa các cánh hoa lớn có cánh nhỏ tạo cảm giác nhiều lớp cánh. Chính giữa lòng bát đĩa có khi là bông hoa cúc nhụy tròn xung quanh nhiều lớp cánh, hay bông hoa sen nở với nhiều lớp cánh đơn, quanh bông hoa là những đường hồi văn kép, các đường gợn sóng.. Duy nhất có 1 chiếc bát có trang trí nổi 2 con cá quay ngược chiều như đang đuổi nhau trong bố cục tròn, khác lạ so với những bát đĩa trang trí cá của gốm Việt Nam và Trung Quốc cùng thời.

Trong sưu tập Hòn Dầm còn thấy loại đồ gốm có tai, miệng nhỏ, cổ thót, thân hình cầu dẹt hay hình thoi, chỉ cao trên dưới 5 cm. Phổ biến loại lọ nhỏ có 2 tai, men ngọc, men nâu hay men trắng xám rạn. Xương gốm có mầu hồng, mầu xám, dưới trôn có dấu con kê tròn không men.

Bên cạnh đó, sưu tập có loại chum cao 60-70 cm, miệng có viền nổi, cổ ngắn hình trụ, vai phình, thân hình trứng, thuôn dần xuống đế. Vai đắp nổi 4 tai ngang, men nâu đen phủ không trùm chiều cao, thường để lộ giáp đế. Bình gốm men xám hình chân đèn cao 27 cm có miệng loe, cổ cao hình trụ, vai phình, thân vát, đế bằng.

Đồ gốm sành không men có loại nồi miệng loe, cổ eo, vai xuôi, thân phình, màu xám, cao 15 cm. Cùng phát hiện với những đồ gốm, các thợ lặn khai quật đã đưa lên những đồng tiền "Vĩnh Lạc Thông bảo'' (1403-1424) càng củng cố thêm cho niên đại của sưu tập tàu cổ Hòn Dầm là thế kỷ 15.

 b. Tàu cổ Cù Lao Chàm (Quảng Nam)

Trong tàu cổ Cù Lao Chàm, hàng hóa đồ gốm Việt Nam là chủ yếu nhưng cạnh đó còn có một số đồ gốm Champa, Trung Quốc và Thái Lan. Đồ gốm Thái Lan ở đây thuộc dòng men ngọc và men nâu đen, số lượng ít, có thể là đồ dùng của thuỷ thủ tàu.
 
 Chum, gốm men nâu đen, Thái Lan - thế kỷ 15.
 
Gốm men ngọc có loại nậm rượu 2 bầu, cao 9,3cm, trên thân khắc rạch văn ô trám và những đường chỉ ngang, men xanh ngọc, chân đế không men, màu hồng. Lọ gốm men màu vàng xám, cao 7,2cm có miệng cúp, thân hình cầu, vai có gắn 2 tai nổi. Thân in nổi hoa văn dây lá và cánh cúc. Lại có lọ nhỏ, miệng nhỏ, thân hình cầu chia múi nổi, men xanh ngọc, cao 6cm.

Gốm men nâu ở đây không chỉ có loại chum lớn cao 59,5-66cm, có 4 tai nổi trên vai, men nâu phủ trùm không hết còn để lộ chân đế mà còn có nhiều loại hình khác với kích thước nhỏ. Bình có dáng tỳ bà (Yuhuchun), cao 8,3cm, men nâu đã bạc màu, phần không men có màu xám. Hũ miệng đấu, cổ eo hình trụ ngắn, vai phình thuôn xuống đế, vai có đính 2 tai nổi, men nâu đen, cao 16,5cm. ấm miệng loe, cổ eo hình trụ, thân hình cầu, men nâu đen sẫm, cao 15,5cm.

Đặc biệt là một nhóm những lọ tròn dẹt hay hình cầu, miệng nhỏ phủ men nâu đen mà nay một số đã bị bong tróc gần hết và xung quanh còn dính các vết hàu biển. Chiều cao của chúng chỉ từ 4-4,8cm, cao nhất là 7,1cm. Một nhóm cối và chày gốm men nâu cũng là loại hiếm gặp. Cối được tạo dáng gần hình trụ, đáy bằng, không men. Loại cối to, đường kính miệng 15cm, cao 9,9cm, có thành dày, trong lòng và đáy không men. Cối loại nhỏ, đường kính từ 7,2-11,2cm, cao 6,3-8,8cm, men nâu phủ cả trong và ngoài (ảnh). Các chày gốm tạo hình con tiện, 2 phía tròn hình chỏm cầu, dài 13,5-15cm (ảnh).

c. Tàu cổ Phú Quốc (Kiên Giang)

Kết quả khảo sát tàu cổ Phú Quốc (2004), tuy không đủ điều kiện cho việc tổ chức một cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước nhưng các hiện vật tìm được đã cho thấy dấu tích một con tàu chở hàng hóa đồ gốm và ngà voi của Thái Lan. Những đồ gốm này mang lại những thông tin mới về niên đại gốm Thái tham gia xuất khẩu.

Gốm men ngọc bao gồm các loại đĩa tạo dáng chậu có vành miệng loe, gờ cắt khấc (đường kính miệng 26,5-28cm), trong và ngoài khắc chìm hoa sen và cánh sen. Lọ tỳ bà với miệng loe, cổ eo, thân dưới phình, cao trung bình 25cm. Lọ hình cầu dẹt cao 11-12,5cm, có miệng nhỏ, xung quanh miệng gắn 2-3 tai nổi. Cũng có loại lọ hình quả dưa, cao 12,5cm, miệng nhỏ, xung quanh thân chia nhiều dọc nổi.

Hũ miệng đứng, vai phình, thân thuôn (cao 14cm), xung quanh khắc rạch những đường sọc tạo cánh cúc.

Gốm men nâu có loại bình cao 27cm, chính là cùng loại và kích thước với chiếc bình trong tàu cổ Hòn Dầm (M. Flecker, 1992. Hình 18). Nhưng loại đồ gốm men nâu điển hình của gốm Thái là loại lọ miệng loe, cổ eo ngắn gắn 2 tai dọc thân dáng quả lê, cao 13,5cm-18cm. Có lẽ đây là một loại đồ đựng rượu, xung quanh thành ngoài còn rõ dấu vết của kỹ thuật vuốt trên bàn xoay, phần đáy không men. Một loại lọ rất bé khác cũng mang đặc điểm loại hình gốm Thái là lọ miệng nhỏ có gờ viền, cổ ngắn gắn 2 tai dọc nổi, vai xuôi, thân phình thu nhỏ về đáy, đáy bằng để mộc. Thân khắc lõm 2 băng cánh hoa và 3 đường chỉ chìm, phủ men nâu vàng.

Ngoài ra, phải kể tới loại chén miệng cúp, thành cao, sâu lòng, đế thấp và nhỏ, cao trên dưới 5,4 cm. Xung quanh thành ngoài trang trí các vạch thẳng song song lõm hình lòng máng. Dường như kiểu dáng này gần gũi với loại chén men ngọc thời Tống.

Gốm hoa lam ở đây chỉ là loại vẽ màu nâu đen rỉ sắt. Điển hình trong nhóm chính là loại đĩa dáng chậu, đường kính 27-32cm, cao 7-8cm, giữa lòng vẽ cá trong ô tròn, vành miệng vẽ lá trúc, thành ngoài vẽ mây.

Một loại đĩa khác có dáng miệng loe, thành vát, đường kính 24,5cm, cao 6,5cm, trong lòng vẽ hình cá và còn dấu kê 4 hay 5 mấu.

Loại bát vẽ men đen ở đây có miệng loe, thành cong, đế thấp, đường kính 16-17cm, cao 7-8cm, giữa lòng vẽ một cành hoa cúc, gờ miệng vẽ băng lá trúc...

Đây là một số trường hợp khá trùng hợp về kiểu dáng và trang trí của gốm châu á mà chúng ta đã gặp trên gốm thời Nguyên, gốm hoa lam Việt Nam, thế kỷ 14-15 và gốm Thái Lan... Dù rằng sự khác nhau do nguồn nguyên liệu và kỹ thuật chế tạo nhưng sự tương đồng của loại hình và trang trí trên các mẫu bát đĩa hoa lam của 3 vùng châu á là chắc chắn.

3. Lời kết

Đồ gốm sứ trên các con tàu đắm cổ phát hiện được trong vùng biển Việt Nam hơn 10 năm qua đã chứng tỏ một tiềm năng to lớn cho việc nghiên cứu con đường tơ lụa trên biển Đông. Dù chỉ mới khai quật 5 con tàu cổ nhưng chúng ta đã thấy sự phát triển của gốm Việt Nam trong giai đoạn thịnh vượng thế kỷ 15. Các dòng men, sự đa dạng và phong phú về trang trí của đồ gốm sứ Việt Nam trong tàu Cù Lao Chàm sẽ còn tiếp tục được nghiên cứu khám phá.

Những ảnh hưởng về tạo dáng và trang trí thể hiện trên đồ gốm sứ trong khu vực sẽ còn là đề tài nghiên cứu lý thú cho tất cả chúng ta. Những kho báu vật về đồ gốm sứ Trung Quốc ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều người yêu chuộng và ham thích. Đóng góp của các phát hiện tàu cổ chở hàng gốm sứ Trung Quốc còn mang lại nhiều nhận thức mới về gốm sứ Trung Quốc thời Minh và Thanh.

Hơn thế nữa, những phát hiện này còn khẳng định tuyến đường lịch sử nối liền châu á với châu Âu. Các loại hình và trang trí trên những đồ gốm sứ Trung Quốc còn mạng đậm dấu ấn văn hóa giao lưu của châu á và châu Âu. Dường như đó cũng là bằng chứng sống động về sức sống văn hóa truyền thống đã từng phát triển qua nhiều thế kỷ.
Cũng qua phát hiện tàu cổ bị đắm ở biển Đông, chúng ta còn có dịp tiếp cận với đồ gốm Thái Lan và không ở đâu cho ta những căn cứ sinh động hơn để tìm hiểu về lịch sử giao thương gốm Thái, những loại hình và trang trí mang tính đồng đại với các nước khác trong khu vực.

Đối chiếu so sánh với những phát hiện khảo cổ học về đồ gốm sứ trên lãnh thổ Việt Nam, nghiên cứu những đồ gốm sứ trong các con tàu cổ ở biển Đông chúng ta còn có thể phác thảo con đường giao thương quốc tế qua vùng biển Việt Nam cũng như vẽ lại bức tranh toàn cảnh của đồ gốm sứ Trung Quốc - Việt Nam - Thái Lan thế kỷ 14 - 18.
Theo Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia

Ý kiến bạn đọc

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới